Bệnh tuyến giáp TS. Nguyễn Thế Dân CN Bộ môn Giải phẫu bệnh H.V.Q.Y. Bệnh tuyến giáp Tuyến giáp to có thể do các bệnh: - Bướu giáp đơn thuần (Goitre) - Các viêm tuyến giáp (Riedel) - Tăng chức năng tuyến giáp (Basedow) - Giảm chức năng tuyến giáp (Hashimoto) - U lành (adenoma) - Ung Bài giảng Giải phẫu Bệnh - Y Hà Nội chiaseykhoa Follow 1. BÀI 1 1.Mô hạt 2. Bệnh Goutte 3. Viêm ruột thừa cấp 4. Viêm dạ dày mạn tính 2. MÔ HẠT 3. Tiêu chuẩn vi thể • Các thành phần thấy trong mô hạt • Vi mạch tân tạo • Lympho bào • Tương bào • Đại thực bào • Bạch cầu đa nhân • Tế bào sợi 4. Mô hạt 5. Mô hạt 1. Vi mạch tân tạo 2. Lympho bào 3. Phẫu thuật Phakic - 128 Bùi Thị Xuân HN. 2. Nhược điểm · Thời gian phục hồi thị lực chậm hơn so với phẫu thuật khúc xạ bằng Laser. · Độ tuổi hạn chế, cân nhắc bệnh nhân muốn điều trị có độ tuổi > 35 tuổi … => Đọc thêm. Cắt lọc bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnhhọc. a. Đối với cắt bỏ buồng trứng ngẫu nhiên: 1 lát cắt tiếp tuyến toàn bộ buồng trứng. b. Đối với u nang: cắt 3 lát ở u nang ( nhất là ở vùng cónhú). c. Đối với u: cắt 3 lát hoặc mỗi lát cắt cho mỗi cm nếu khối u lớn TẢI XUỐNG MIỄN PHÍ GIẢI PHẪU BỆNH HỌC BỘ Y TẾ. Sách Giải Phẫu Bệnh Học được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục của Đại học Y—Dược TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các giáo sư, tiến sĩ, các nhà giáo có kinh Giảm cân nặng, mặc dù không thay đổi chế độ ăn uống Tăng tiết mồ hôi Nhịp tim nhanh, huyết áp cao kèm theo sự hồi hộp Run tay, cơ bắp yếu Tăng độ nhạy cảm với nhiệt độ Tiêu chảy hoặc tăng tần suất trong nhu động ruột Bướu cổ do tuyến giáp mở rộng Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt Rối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dục Suy tim Mắt lồi 05SAx. Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh Basedow khá cao, chiếm khoảng từ 10% đến 39% các bệnh liên quan đến bướu giáp hiện nay. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời sẽ có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. Bệnh Basedow là một dạng bệnh nội tiết phổ biến nhất hiện nay, trong đó bệnh cường giáp tự miễn chiếm hơn 90% các bệnh cường giáp. Bệnh được đặc trưng bởi hiện tượng bướu giáp lan tỏa và triệu chứng lồi mắt, thường bắt gặp chủ yếu ở nữ. Nếu không được chữa trị kịp thời mà để tình trạng bệnh kéo dài thì sẽ rất nguy hiểm cho bệnh nhân. 2. Nhận biết triệu chứng của bệnh Basedow Việc nhận biết triệu chứng được chia làm 2 nhóm hội chứng lớn là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến Tại tuyến giápBướu giápNgười mắc bệnh Basedow thường có bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm hoặc hơi cứng, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan ở vùng lân cận. Một số biểu hiện rối loạn vùng mạch tại vùng cổ như ửng đỏ, do nóng, tăng tiết mồ mạchHồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp khi gắng sức làm việc hay trong thời gian nghỉ ngơi. Trường hợp mạnh gây ra suy tim loạn mạch, phù phổi, gan to, phù hai chi kinh cơDấu hiệu nổi rõ ở hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ. Khi mắc bệnh cường giáp, bệnh nhân thường thay đổi tính khí thất thường, dễ nóng giận hay cáu gắt, bực tức, nói nhiều, bất an, khó tập trung, mất ngủ. Hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ ở người bệnh Basedow Dấu hiệu tăng chuyển hóaThân nhiệt tăng cao, thất thường, không ổn định, luôn có cảm giác nóng. Cơ thể gầy nhanh, uống nhiều nước, chịu được thời tiết lạnh nhưng không chịu được thời tiết ra còn xuất hiện rối loạn chuyển hóa gây hiện tượng loãng xương, ở người lớn tuổi sau mãn kinh gây nhiều biến chứng nặng như xẹp đốt sống, loãng xương tự nhiên, viêm quanh các hiện tiêu hóaĂn nhiều vẫn gầy, hay bị tình trạng tiêu chảy, nôn mửa, vàng loạn sinh lýVới biểu hiện giảm ham muốn ở nam giới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới, chứng vú to ở nam giới. Da và cơ quan phụ thuộcNgứa da, biểu hiện rối loạn sắc tố da, có xuất hiện bạch ban ở bàn tay và các chi, tóc khô, hoe, rất dễ rụng Biểu hiện ngoài tuyến giápThương tổn mắtThường hay gặp là lồi mắt. Có 2 dạng là lồi mắt giả và lồi mắt thật lòi mắt nội tiết, có thể không liên quan đến mức độ nhiễm độc giáp hoặc độc lập với điều trị vì có thể xảy ra sau quá trình điều trị nhất là phẫu thuật hoặc điều trị phóng mắt giảTriệu chứng này tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm tăng thyroxin gây tăng co kéo cơ nâng mi làm khóe mắt rộng ra. Thương tổn mắt với biểu hiện mắt người bệnh bị lồi mắt Lồi mắt thậtLồi mắt thật lồi mắt nội tiết tổn thương thâm nhiễm liên quan đến các thành phần hốc mắt gây bệnh mắt nội tiết trong bối cảnh tự miễn bệnh Basedow gây tổn thương cơ vận nhãn và tổ chức sau hốc mắt. Bệnh lý về mắt này thường phối hợp gia tăng nồng độ kháng thể kháng thể TSH kích thích.Phù niệmTỉ lệ gặp 2-3%, thường định vị ở mắt trước cẳng chân, dưới chân gối, có tính chất đối xứng. Vùng thương tổn dày không thể kéo lên có đường kính khoảng vài cm, có giới hạn. Da vùng thương tổn thường hồng bóng, thâm nhiễm cứng 9 da heo, lỗ chân lông nổi to lên nổi rõ, mọc thưa, lông dựng đứng da cam, bài tiết nhiều mồ hôi. Một số trường hợp bệnh nhân mắc hiện tượng này còn xuất hiện lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân. To các đầu chiĐầu các ngón tay và các ngón chân của bệnh nhân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương có thể có xuất hiện phản ứng tổ chức mềm, tái và nhiệt độ bình thường phân biệt với bệnh phổi man. Ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng tiêu móng các biểu hiện trên còn tìm thấy ở bệnh nhân một số dấu hiệu của các bệnh lý tự miễn phối hợp khác đi kèm như suy vỏ thương thận, suy phó giáp, tiểu đường, nhược cơ năng, trong bối cảnh bệnh đa nội tiết tự miễn. 3. Nguyên nhân gây bệnh Basedow Basedow hiện nay là bệnh tự miễn có nguyên nhân theo thống kê bệnh phần lớn có liên quan đến di truyền khoảng 79%, phần còn lại do các yếu tố khác như tuổi tác, môi trường sống, cơ địa, giới tính, hóa chất có trong thực phẩm ăn uống hằng ngày. Di truyền là nguyên nhân chính gây bệnh Basedow 4. Bệnh Basedow có nguy hiểm không? Basedow là bệnh rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, nếu không được điều trị kịp thời và điều trị đúng cách, bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng tử vong trong tình trạng suy tim, suy kiệt và đặc biệt trong tình trạng cơn bão giáp, một trong những biến chứng nặng của bệnh. 5. Chẩn đoán bệnh Basedow Các chuẩn đoán bệnh Basedow lâm sàng được tiến hành thực hiện nhưSiêu âm tuyến giáp, siêu âm Doppler mạch tuyến giápXét nghiệm chẩn đoán hormoneXạ hình tuyến giápĐiện tâm đồChụp X QuangXét nghiệm men gan,... Siêu âm tuyến giáp giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh Basedow 6. Các biện pháp ngừa bệnh Basedow Đối với các bệnh nhân đã từng mắc bệnh, cần thực hiện một số biện pháp để giảm nguy cơ bệnh cường giáp tự miễn tái phát trở lại của cao thể trạng sức khỏe, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và lành mạnh thường xuyên tập luyện thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe cơ thể, tăng sức đề kháng và điều hòa hệ miễn dịch của cơ bệnh cần xây dựng một nền tảng tinh thần tốt, thoải mái, tránh căng thẳng, buồn hút thuốc lá và sử dụng chất kích thích có hại cho đường hô hấp, tránh hít phải khói thuốc kính để bảo vệ mắt khỏi bụi, nhỏ thuốc và vệ sinh mắt hằng chế ăn nhiều thực phẩm có chứa nhiều iod, không sờ nắn nhiều lên vùng cổ. Ngoài ra, nếu có bất kỳ triệu chứng nào về bệnh cường giáp kể trên, mọi người cần đến đến các cơ sở y tế để thực hiện siêu âm tuyến giáp nhằm kịp thời phát hiện sớm và có pháp đồ điều trị đúng đắn đối với căn bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Bướu Basedow có ảnh hưởng đến sức khỏe không? Biến chứng nguy hiểm của bệnh Basedow là gì? Công dụng thuốc Thiamazol Basedow, là một trong những bệnh lý cường giáp thường gặp trên lâm sàng, với các biểu hiện chính, nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa. Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Basedow là một trong những bệnh lý cường giáp thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt và tổn thương ở ngoại biên. Bệnh Basedow mang nhiều tên gọi khác nhau bệnh Graves, bệnh Parry, bướu giáp độc lan tỏa hay bệnh cường giáp tự miễn. Nhờ sự tiến bộ của miễn dịch học, ngày càng nhiều kháng thể hiện diện trong huyết tương người bệnh được phát hiện, vì thế hiện nay bệnh được xếp vào nhóm bệnh liên quan tự miễn. Nguyên nhân Nguyên nhân gây ra chưa rõ, nhưng sự tăng tiết hormon tuyến giáp T3 và T4 được cho là do rối loạn miễn dịch gây kích thích bất thường tuyến giáp. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhất là độ tuổi 20 - 40, ở phụ nữ chiếm ưu thế. Tỉ lệ nam /nữ từ 1/5 đến 1/7 ở vùng không bị bướu cổ địa phương. Tuy nhiên, ở vùng dịch tễ tỉ lệ này thấp hơn. Theo Volpé có lẽ liên quan đến sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế, là yếu tố cơ bản trong bệnh lí tự miễn ở tuyến giáp. Một vài yếu tố ghi nhận có thể gây đáp ứng miễn dịch trong bệnh Basedow như Thai nghén nhất là giai đoạn chu sinh. Dùng nhiều iod, đặc biệt dân cư sống trong vùng thiếu iod, có thể iod làm khởi phát bệnh Basedow tiềm tàng. Dùng lithium làm thay đổi đáp ứng miễn dịch. Nhiễm trùng và nhiễm virus. Ngừng corticoid đột ngột. Người có HLA B8-DR3, HLA BW 46-B5 Trung Quốc và HLA-B17 da đen. Vai trò stress những stress tinh thần, chấn động thể chất, nhiễm khuẩn. Liên quan di truyền với 15% bệnh nhân có người thân mắc bệnh tương tự và khoảng chừng 50% người thân của bệnh nhân có tự kháng thể kháng giáp trong máu. Yếu tố thuận lợi là những stress tinh thần, chấn động thể chất, nhiễm khuẩn. Cơ chế bệnh sinh Trong bệnh Basedow người ta thấy có sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế Ts, T8, cho phép tế bào lympho T hỗ trợ, kích thích tế bào lympho B tổng hợp các kháng thể chống lại tuyến giáp. Globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp TSI Thyroid stimulating immunoglobulin hoặc TSH. R Ab kháng thể kích thích thụ thể TSH gây tình trạng nhiễm độc giáp. Ngoài ra còn tìm thấy nhiều loại kháng thể kháng thyroglobulin, kháng thể kháng enzym peroxydase giáp hoặc kháng thể kháng tiêu thể. Ngoài ra tiến trình viêm nhiễm cơ hốc mắt do sự nhạy cảm của các tế bào lympho T độc tế bào cytotoxic T lymphocyte hoặc các tế bào diệt killer cell đối với kháng nguyên hốc mắt trong sự kết hợp với các kháng thể độc tế bào. Tuyến giáp và mắt có thể có liên quan bởi một kháng nguyên chung giữa tuyến giáp và nguyên bào hốc mắt. Tuy nhiên vẫn chưa rõ là làm sao gây ra dòng miễn dịch này. Triệu chứng lâm sàng Thể điển hình có đủ 3 biểu hiện lâm sàng chính bướu giáp, hội chứng cường giáp và lồi mắt, nhưng độ trầm trọng của mỗi biểu hiện khác nhau tuỳ từng bệnh nhân. Bệnh có khi xảy ra rất nhanh chỉ trong vòng vài tuần hay ít hơn nữa, nhưng thường tăng dần trong nhiều tháng thậm chí nhiều năm trước khi bệnh nhân thấy. Bướu giáp Tuyến giáp thường lan toả tương đối đều, mềm hoặc chắc. Nghe tại bướu có thể phát hiện được tiếng thổi liên tục hay trội hơn ở thì tâm thu. Bướu giáp lớn đôi khi gây chèn ép các cơ quan lân cận. Khoảng 7,4 % trường hợp không có bướu. Hội chứng cường giáp Dấu dễ kích thích thần kinh Bệnh nhân dễ nóng giận, dễ xúc cảm, nói nhiều, vận động nhiều nhưng mau mệt, dễ lo âu sợ sệt đôi khi không tập trung được tư tưởng, mất ngủ, phản xạ gân xương đôi khi tăng. Run tay, yếu cơ và teo cơ là những dấu chứng thuộc thần kinh cơ do nhiễm độc giáp, run thường ưu thế ở đầu ngón tay. Run thường xuyên, gia tăng khi xúc động hoặc lúc ít hoạt động, thường kết hợp với vụng về. Teo cơ thường gặp ở cơ gốc, kết hợp với yếu cơ. Rối loạn thần kinh thực vật Mặt phừng đỏ, da nóng và ẩm, có cơn tiết mồ hôi thường xảy ra, rối loạn nhiệt về mùa đông và khát nước bất thường. Dấu hiệu tiêu hoá Ăn nhiều, ăn ngon miệng hoặc đôi lúc chán ăn. Buồn nôn hay nôn. Tăng nhu động ruột gây tiêu chảy hay đại tiện nhiều lần. Dấu tăng chuyển hoá Gầy, khó chịu nóng và dễ chịu lạnh. Chuyển hoá cơ bản tăng. Dấu hiệu tim mạch Thường mạch nhanh, tăng hơn khi gắng sức hoặc xúc động mạnh. Có khi loạn nhịp. Suy tim có thể xuất hiện hồi hộp, mệt ngực... Rối loạn sinh dục Phụ nữ có thể rối loạn kinh nguyệt. Đàn ông có thể liệt dương. Dấu da, lông, tóc, móng Da mỏng mịn và hồng, nóng ẩm; có hồng ban. Lông tóc mảnh, khô, dễ gãy. Móng tay dễ gãy. Phù niêm trước xương chày. Dấu chứng về mắt Có thể giả lồi mắt do cường giáp. Lồi mắt thật sự còn gọi là bệnh mắt tẩm nhuận nội tiết có khi trở thành ác tính làm hỏng mắt, mắt lồi không khép kín dễ nhiễm khuẩn, loét giác mạc, đôi khi mắt lồi hẳn ra ngoài hốc mắt. Lồi mắt không liên quan đến cường giáp, đôi lúc xảy ra sau quá trình điều trị nhất là phẫu thuật hoặc điều trị phóng xạ. Cần phân biệt biểu hiện mắt trong bệnh Basedow liên quan Tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm. Tổn thương thâm nhiễm liên quan đến các thành phần hốc mắt gây bệnh mắt nội tiết trong bối cảnh tự miễn trong bệnh Basedow gây thương tổn cơ vận nhãn và tổ chức sau hốc mắt. Bệnh lí mắt thường phối hợp gia tăng nồng độ kháng thể kháng thụ thể TSH kích thích. Theo phân loại của Hội giáp trạng Mỹ American Thyroid Association các biểu hiện ở mắt được phân độ như sau Độ 0 không có dấu hiệu và triệu chứng. Độ I không có triệu chứng, có dấu co kéo mi trên, mất đồng vận giữa nhãn cầu và trán, giữa nhãn cầu và mi trên. Độ II ngoài các dấu hiệu của độ I, còn có cảm giác dị vật ở trong mắt, sợ ánh sáng photophobie, chảy nước mắt, phù mí mắt, sung huyết và sưng kết mạc... thâm nhiễm cơ và tổ chức hốc mắt, nhất là tổ chức quanh hốc mắt. Độ III lồi mắt thật sự, dựa vào độ lồi nhãn cầu của mắt mà chia ra Lồi nhẹ từ 3 - 4 mm. Lồi vừa từ 5 - 7 mm. Lồi nặng ≥ 8 mm. Cần lưu ý về phương diện lâm sàng nên dựa vào yếu tố chủng tộc để đánh giá vì độ lồi nhãn cầu bình thường đánh giá qua thước Hertel của người da vàng là 16 - 18mm, da trắng 18-20mm và da đen 20 - 22mm. Độ IV thương tổn cơ vận nhãn. Độ V thương tổn giác mạc. Độ VI giảm hoặc mất thị lực do thương tổn thần kinh thị. Để đánh giá một cách tương đối trung thực về sự tẩm nhuận sau hốc mắt cũng như đánh giá điều trị cần siêu âm nhãn cầu. Phù niêm Tỉ lệ gặp 2 - 3%, thường định vị ở mặt trước cẳng chân, dưới đầu gối, có tính chất đối xứng. Da vùng thương tổn hồng, bóng, thâm nhiễm cứng da heo, lỗ chân lông nổi lên, lông mọc thưa và dựng đứng, bài tiết nhiều mồ hôi. Đôi khi thương tổn lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân. Biểu hiện ngoại biên Đầu các ngón tay và các ngón chân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương, có thể có phản ứng tổ chức mềm. Ngoài ra có dấu chứng tiêu móng tay. Ngoài các biểu hiện trên còn tìm thấy một số dấu hiệu của các bệnh lí tự miễn phối hợp khác đi kèm như suy vỏ thượng thận, suy phó giáp, tiểu đường, nhược cơ nặng, trong bối cảnh bệnh đa nội tiết tự miễn. Xét nghiệm máu nồng độ T3, T4 tăng và TSH giảm. T3 95 - 190 ng/dl = 1,5 - 2,9 nmol/l tăng. T4 5 - 12 àg/dl = 64 - 154 nmol/l tăng. Tỷ T3 ng %/T4 microgam % trên 20 đánh giá bệnh đang tiến triển. TSH siêu nhạy 0,5 - 4,5 àU/ml giảm. Độ tập trung I131 tại tuyến giáp sau 24 giờ tăng cao hơn bình thường, giai đoạn bệnh toàn phát có góc thoát góc chạy. Lưu ý một số thuốc kháng giáp cũng gây hiện tượng này nhóm carbimazol. Nên đánh giá vào các thời điểm 4, 6 và 24 giờ. Độ tập trung I131 tăng. Siêu âm tuyến giáp tuyến giáp phì đại, eo tuyến dày, cấu trúc không đồng nhất, giảm âm. Siêu âm Doppler năng lượng có thể thấy hình ảnh cấu trúc tuyến giáp hỗn loạn như hình ảnh đám cháy trong thời kì tâm thu và tâm trương với các mạch máu giãn trong tuyến giáp, động mạch cảnh nhất là động mạch cảnh ngoài nảy mạnh. Trong nhiều trường hợp không điển hình khởi đầu hoặc điều trị khó phân biệt với hình ảnh của Hashimoto. Giải phẫu bệnh tuyến giáp lớn đều cả hai thùy, tính chất lan tỏa, mềm và tân sinh nhiều mạch máu. Nhu mô giáp phì đại và tăng sản, gia tăng chiều cao của tế bào thượng bì và vách nang tuyến, tạo ra các nếp gấp dạng nhú phản ánh tế bào tăng hoạt động. Sự loạn sản như trên thường kèm thâm nhiễm tế bào lympho, điều này phản ánh bản chất miễn dịch của bệnh và liên quan đến nồng độ kháng thể kháng giáp trong máu. Một số các xét nghiệm khác xạ hình, chụp phim xương chày, ST scan, MRI... Nhận định tình trạng bệnh nhân Nhận định tình trạng bệnh nhân qua hỏi bệnh Những triệu chứng đặc hiệu của bệnh Basedow, đặc biệt là dấu hiệu cường giáp Bệnh nhân dễ nóng giận, dễ xúc cảm, nói nhiều, vận động nhiều nhưng mau mệt. Lo âu sợ sệt, mất ngủ. Run tay, yếu cơ và teo cơ. Tăng tiết mồ hôi tay. Dấu hiệu tiêu hoá ăn nhiều, hoặc chán ăn, buồn nôn hay nôn, tiêu chảy hay đại tiện nhiều lần? Bệnh nhân có hồi hộp, tức ngực không? Gầy, khó chịu nóng và dễ chịu lạnh? Rối loạn sinh dục phụ nữ có thể rối loạn kinh nguyệt, đàn ông có thể liệt dương? Tiến triển của bệnh nhân bị bệnh Basedow. Hỏi tiền sử bản thân và gia đình Tiền sử gia đình về bướu giáp, cường giáp và suy giáp. Các bệnh tự miễn miễn khác. Các san chấn về tình cảm và thể chất. Các thuốc đã sử dụng có liên quan đến mắc bệnh. Nhận định bằng cách quan sát Tình trạng tinh thần bệnh nhân hay kích thích, hay vận động. Quan sát tuyến giáp thường tuyến giáp lớn. Quan sát tuyến mắt thường mắt lồi. Tình trạng phù chân. Có dấu nổ ở móng tay. Nhận định bằng cách thăm khám Đo dấu hiệu sống, chú ý mạch và huyết áp bệnh nhân. Thường mạch nhanh, tăng hơn khi gắng sức hoặc xúc động mạnh. Khám tuyến giáp tuyến giáp lớn cả 2 thuỳ, chắc và mật độ đều, có thể nghe được tiếng thổi. Khám dấu hiệu run tay, bàn tay ẩm và ướt. Khám tim tim nhanh, đều có thể có loạn nhịp. Da mỏng mịn và hồng, nóng ẩm, có hồng ban. Lông tóc mảnh, khô, dễ gãy. Phù niêm trước xương chày. Móng tay dễ gãy. Khám dấu hiệu lồi mắt do cường giáp mắt nhắm không khít, song thị hoặc sa mi mắt và bệnh nhân phàn nàn vì yếu cơ mắt hoặc khô, ngứa mắt ... Thăm khám bằng các xét nghiệm T3, T4, TSH, siêu âm tuyến giáp... Nhận định bằng cách thu thập các dữ kiện khác Thu thập qua gia đình bệnh nhân. Qua hồ sơ bệnh án và các thuốc đã sử dụng. Chẩn đoán điều dưỡng Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể có ở bệnh nhân Basedow như sau Bệnh nhân dễ nóng giận, dễ xúc cảm do nhiễm độc giáp. Tăng thân nhiệt do tăng chuyển hoá. Run tay, yếu cơ do nhiễm độc giáp. Mặt phừng đỏ, da nóng và ẩm do rối loạn thần kinh thực vật. Nguy cơ xuất hiện cơn bão giáp do điều trị không hiệu quả. Lập kế hoạch chăm sóc Bệnh nhân cần nghỉ ngơi thích hợp và ngủ đầy đủ. Cho ăn uống thức ăn đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu để đạt được hoặc duy trì trọng lượng cơ thể theo yêu cầu. Chăm sóc về rối loạn tiêu hoá nếu có bất thường. Biết cách chăm sóc và bảo vệ mắt tránh tổn thương giác mạc. Thực hiện các y lệnh đầy đủ và chính xác. Giáo dục súc khoẻ cho bệnh nhân Bệnh nhân cần biết được các yếu tố thuận lợi có thể gây bệnh. Biết được diễn tiến và biến chứng của bệnh. Biết được các phương pháp điều trị và phương pháp nào là điều trị thích hợp. Chăm sóc cơ bản Không có biện pháp điều trị nào lành bệnh ngay lập tức, mà sự điều trị thành công có lẽ cần đến việc điều chỉnh chế độ điều trị theo thời gian. Người điều dưỡng hợp tác với bệnh nhân và gia đình trong việc lập kế hoạch chăm sóc. Những can thiệp nói chung liên quan đến việc tăng cảm giác thoải mái cho bệnh nhân trong đời sống hàng ngày. Môi trường yên tĩnh, thuận tiện và mát mẻ là lý tưởng. Đối với những bệnh nhân nằm viện thì thích hợp hơn là dùng phòng tách biệt. Bệnh nhân nhập viện nên được tắm rửa thường xuyên, thay ra và được giúp đỡ khi cần thiết để giữ trạng thái thoải mái và mát mẻ. Giúp bệnh nhân trong những hoạt động tự chăm sóc, đi lại và giặt giũ sẽ giúp bệnh nhân tiết kiệm được năng lượng. Những biện pháp làm bệnh nhân thoải mái cũng giúp bệnh nhân ngủ ngon hơn mặc dù thuốc giảm đau hoặc an thần cũng cần thiết giúp cho bệnh nhân nghỉ ngơi. Bệnh nhân nên ăn chế độ ăn giàu năng lượng, protein, carbohydrat và nên uống nhiều nước, nên cung cấp thêm vitamin và chất khoáng đặc biệt vitamin tan trong nước do khả năng hấp thu bình thường các vitamin này giảm. Nếu tiêu chảy, co thắt hoặc tăng nhu động ruột thì nên ăn nhiều bữa với lượng ít thức ăn. Bệnh nhân tránh ăn thức ăn có nhiều chất xơ và chất tạo hơi. Nên theo dõi trọng lượng cơ thể đều đặn. Những hoạt động giải trí thích hợp là cần thiết để giúp bệnh nhân giảm lo lắng và nỗi chán chường vì bị buộc hạn chế hoạt động. Đọc sách, xem ti vi, nghe nhạc và chơi game sẽ tránh được tình trạng mỏi cơ. Viết thư, may vá và những công việc tỉ mỉ khác có thể rất khó hoặc làm chán nản nếu bệnh nhân đang gặp những chấn động chưa ổn định. Nên làm cho bệnh nhân và gia đình yên tâm rằng những triệu chứng về tâm lý liên quan đến bệnh và mất đi khi bệnh giảm. Quá kích thích và cải vã nên được tránh. Cần giới hạn người đến thăm cũng như thời gian đến thăm. Thông cảm với cách cư xử của bệnh nhân có thể giúp bệnh nhân tự kiểm soát mình. Hạn chế muối trong chế độ ăn và nằm đầu cao khi ngủ có thể giúp giảm tình trạng phù quanh mắt. Sử dụng dịch nhỏ mắt sinh lý để tránh bị khô mắt, dùng thuốc mỡ vào ban đêm, dùng kính màu tránh tình trạng sợ ánh sáng và dùng kính Wraparound để phòng tổn thương do gió và bụi. Luyện tập những cơ ngoài mắt có thể phòng được chứng song thị. Đánh giá xem tình trạng nhắm mắt có khít không, nếu cần thì khuyên bệnh nhân dùng những miếng che mắt ít dị ứng khi ngủ. Nên khám mắt thường xuyên để phát hiện tình trạng tấy đỏ hoặc loét giác mạc. Thực hiện y lệnh Thực hiện các xét nghiệm và thuốc uống theo đúng y lệnh, tuy nhiên khi sử dụng các thuốc kháng giáp, điều dưỡng cần có kiến thức thích hợp. Người điều dưỡng chịu trách nhiệm giảng giải cho bệnh nhân hiểu về thuốc và theo dõi những phản ứng phụ. Khi thời gian nằm viện ngắn, phải chú trọng đến kiến thức cho việc tự chăm sóc. Bệnh nhân nên nhận được những lời chỉ dẫn bằng lời nói và bằng giấy về tất cả các loại thuốc và phản ứng phụ liên quan. Hầu hết thuốc bị phá hủy nhanh chóng hơn trong tình trạng cường giáp, nên nếu bệnh nhân phải sử dụng những thuốc khác thì phải điều chỉnh liều lượng phù hợp. Có thể gặp phải tình trạng rối loạn đông máu vì vậy cần phải đánh giá và theo dõi. Sử dụng thuốc kháng giáp Propylthiouracil và methimazol Dùng thuốc cùng thời gian hoặc số lần mỗi ngày. Có thể tự sử dụng thuốc kháng histamin khi bị ngứa và nổi ban nhẹ trên da. Báo cáo ngay nếu có đau họng hoặc sốt đột ngột. Theo dõi trọng lượng và những triệu chứng khác một cách điều đặn. Không tự tăng hoặc giảm liều lượng thuốc. Sử dụng dung dịch của lugol Uống thuốc sau bữa ăn với nhiều nước hoặc nước trái cây hoặc sữa. Propanolol Uống thuốc trước bữa ăn. Theo dõi mạch hàng ngày nếu mạch chậm hơn bình thường hoặc không đều phải báo cáo lại. Không bao giờ ngừng uống thuốc đột ngột. Theo dõi trọng lượng cơ thể đều đặn và báo lại nếu có phù. Nếu có đái tháo đường thì phải theo dõi tình trạng hạ glucose máu. Liệu pháp dùng sodium I131 Trách nhiệm chính của người điều dưỡng trong liệu pháp điều trị bằng sodium I131 là hướng dẫn cho bệnh nhân về liệu pháp điều trị và làm cho bệnh nhân an tâm về sự an toàn của liệu pháp điều trị. Theo dõi bệnh nhân Basedow Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là sự trở về bình thường của tần số mạch. Theo dõi hội chứng nhiễm độc giáp. Theo dõi tình trạng mắt, bướu giáp. Theo dõi việc sử dụng thuốc. Theo dõi các biến chứng của bệnh Basedow và biến chứng của thuốc gây ra. Theo dõi chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi của bệnh nhân. Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng I131 trong điều trị ngoại trú Lượng tia mà cơ thể tiếp xúc sẽ tương đương với khi chụp UIV hoặc chụp đại tràng có barium. Bệnh nhân nên nhịn đói vào ban đêm trước khi dùng chất đồng vị phóng xạ để làm tăng khả năng hấp thu. Thuốc kháng giáp nên ngừng ít nhất 5 ngày trước khi sử dụng chất đồng vị phóng xạ. Chất đồng vị phóng xạ dùng bằng đường uống là dung dịch không màu, không mùi. Dùng liều duy nhất trong ngày. Bệnh nhân lưu lại bệnh viện 2 giờ để theo dõi tình trạng nôn, chỉ những liệu pháp liều cao mới cần nhập viện. Nguy cơ nhiễm tia thấp, tuy nhiên bệnh nhân nên tránh tiếp xúc với trẻ em và trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai trong suốt 24 giờ đầu sau điều trị. Bệnh nhân nên uống nhiều nước ít nhất 2-3 lít trong ngày, trong 2-3 ngày sau điều trị, rửa toilet nhiều lần sau khi đi vệ sinh xong, để làm giảm nguy cơ cho gia đình tiếp xúc với chất đồng vị phóng xạ. Sự kích thích ở cổ là phản ứng phụ có thể gặp, những triệu chứng cấp tính nên báo cáo ngay với bác sĩ. Giáo dục sức khoẻ cho bệnh nhân Bệnh nhân cần biết được các yếu tố thuận lợi có thể gây nên bệnh. Biết được diễn tiến và biến chứng của bệnh. Biết được các phương pháp điều trị và phương pháp nào là điều trị thích hợp. Tránh nhưng sang chấn về thể chất và tinh thần. Tích cực điều trị khi phát hiện bệnh. Kiểm tra sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh. Đánh giá quá trình chăm sóc Cần đánh giá toàn diện sau khi thực hiện kế hoạch điều trị và kế hoạch chăm sóc đối với bệnh nhân bị bệnh Basedow. Đánh giá các dấu hiệu sống, cần chú ý đến mạch của bệnh nhân. Đánh giá tình trạng toàn thân. Đánh giá tình trạng tiêu hóa. Đánh giá tình trạng mắt. Đánh giá việc sử dụng thuốc ở bệnh nhân. Đánh giá các biến chứng xảy ra. Công tác giáo dục sức khoẻ đối với bệnh nhân. Cơn bão giáp trạng là tình trạng mất bù của cường giáp, khiến tuyến giáp sản xuất ra rất nhiều hormone. Hiện tượng này xảy ra ở những người bệnh bị cường giáp mà không biết hay không nhận được điều trị đầy đủ và là kết quả của nhiều vấn đề xảy ra cùng lúc như phẫu thuật tuyến giáp, phẫu thuật khác không liên quan đến tuyến giáp, nhiễm trùng, chấn thương. Khi cơn bão giáp trạng được mô tả lần đầu tiên, tỷ lệ tử vong cấp tính gần như 100%. Ngày nay, với phương pháp điều trị tích cực và nhận biết sớm hội chứng này thì tỷ lệ tử vong còn khoảng 20%. Vậy nên, bệnh basedow có nguy hiểm không tất cả tùy thuộc vào việc chẩn đoán và điều trị kịp thời. Bệnh basedow có lây không? Để có thể giải đáp được thắc mắc này, trước hết chúng ta cần tìm hiểu về nguyên nhân gây ra bệnh basedow. Đây là một rối loạn tự miễn khiến hệ miễn dịch của cơ thể tự sản sinh ra kháng thể kích thích tuyến giáp tăng sản xuất hormone quá mức, dẫn đến cường giáp. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ tại sao một số người lại xuất hiện rối loạn này. Một số yếu tố được cho là góp phần vào sự phát triển của bệnh basedow gồm Di truyền Nhiễm trùng và căng thẳng Nhiễm virus Mang thai Như vậy, nguyên nhân gây bệnh basedow không liên quan trực tiếp đến vi khuẩn, virus, kí sinh trùng hay nấm nên bệnh không có khả năng truyền nhiễm, tức là không lây lan qua những tiếp xúc thông thường giữa người bệnh với người lành. Bệnh basedow có ảnh hưởng đến sinh sản không? Basedow là một bệnh tự miễn khá phổ biến, xuất hiện ở nữ giới nhiều hơn nam giới vì có những bằng chứng cho rằng bệnh có liên quan đến sự thay đổi nồng độ hormone estrogen và prolactin, kích thích tạo ra kháng thể gây rối loạn hệ miễn dịch. Do đó, phụ nữ thường mắc phải bệnh này ngay sau khi dậy thì hoặc sinh nở do nồng độ các hormone trên tăng cao hơn bình thường. Bệnh basedow có khả năng ảnh hưởng đến sinh sản, gây ngừng rụng trứng ở phụ nữ và giảm sản xuất tinh trùng ở đàn ông. Phụ nữ mang thai mắc phải bướu cổ basedow có khả năng bị sẩy thai, xuất hiện các vấn đề về tim ở thai nhi và trẻ nhẹ cân khi sinh. Nếu bạn bị bệnh basedow khi đang mang thai và không được điều trị thì có thể dẫn đến cơn bão giáp trạng, gây tăng huyết áp mạnh dẫn đến đau tim, đột quỵ hoặc xuất huyết ở dưới nhau thai… Một cơn bão giáp trạng có thể gây tử vong nên bạn cần phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi nhận thấy những triệu chứng trên. Bệnh basedow thường mang tính di truyền nên nếu trong gia đình có thành viên mắc bệnh này, hãy thông báo cho bác sĩ khi bạn có dự định sinh con. Bác sĩ sẽ kiểm tra tuyến giáp thường xuyên trong suốt thai kỳ. Đồng thời, trẻ cũng sẽ được kiểm tra các vấn đề về tuyến giáp ngay sau khi sinh để xem có cần điều trị hay không vì nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh basedow ở trẻ sơ sinh là do người mẹ cũng mắc phải căn bệnh này, ngay cả khi đã điều trị thành công. Basedow là bệnh gì? Basedow hay bệnh Graves là một dạng bệnh nội tiết, cường giáp phổ biến nhất hiện nay, chiếm hơn 90% các trường hợp cường giáp lưu hành, được đặc trưng bởi biểu hiện bướu giáp lan tỏa và hội chứng cường giáp không ức chế được triệu chứng lồi mắt Bệnh Basedow xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn, chiếm tới 80% các trường hợp, thường ở độ tuổi từ 20-50 và bệnh nhân có tiền sử gia đình biểu hiện bệnh tuyến giáp. Bệnh basedow rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, nếu tình trạng bệnh kéo dài mà không được điều trị đúng cách thì bệnh dễ dẫn tới biến chứng bão giáp khiến bệnh nhân tử vong trong tình trạng suy tim. Hiện nay, bệnh Basedow là bệnh tự miễn chưa rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, bệnh có tính chất gia đình với khoảng 15% người bệnh có họ hàng cùng bị bệnh, trong đó 50% họ hàng các bệnh nhân có kháng thể kháng tuyến giáp lưu hành. Bệnh thường gặp ở phụ nữ trẻ 20-50 tuổi, có thể khởi phát đột ngột hoặc tiến triển từ từ gây sút cân, mệt mỏi khó nhận biết ngay. Triệu chứng cơ năng của bệnh Basedow gồm Gầy sút là biểu hiện thường gặp nhất, người bệnh có thể giảm 3-20kg trong vòng vài tuần hoặc vài tháng mặc dù có thể vẫn ăn ngon. Tuy nhiên, vẫn có một số bệnh nhân nữ trẻ tuổi có khi lại tăng cân do ăn rất nhiều Rối loạn tinh thần dễ lo lắng, kích thích, cáu gắt, hay khóc, khó tập trung và mệt mỏi nhưng khó ngủ Rối loạn điều hòa thân nhiệt có những cơn nóng bừng, vã mồ hôi nhiều nhất là ở ngực và bàn tay, sợ nóng, bệnh nhân hay khát và uống nước nhiều Tim mạch hay hồi hộp, đánh trống ngực, có thể có cảm giác nghẹt thở, đau vùng trước tim Rối loạn tiêu hóa gặp ở khoảng 20% người bệnh đi ngoài nhiều lần phân nát do tăng nhu động ruột, có thể kèm buồn nôn, nôn hay đau bụng Triệu chứng thực thể của bệnh gồm Triệu chứng tim mạch Nhịp tim nhanh trên 100 lần/phút thường xuyên cả lúc nghỉ ngơi hay gắng sức Huyết áp tâm thu tăng, tâm trương không tăng Các mạch máu có cảm giác đập mạnh Suy tim thường xảy ra ở người có bệnh tim từ trước kết hợp với đợt bệnh Triệu chứng thần kinh- cơ Run đầu chi, tăng lên khi xúc động hay cố gắng tập trung làm việc Phản xạ gân xương thường tăng lên Yếu cơ tứ chi, đặc biệt là các cơ ở gốc chi, bệnh nhân đi lại nhanh mỏi, bước lên bậc thang khó khăn Bướu giáp Đây là dấu hiệu gặp ở khoảng 80% các bệnh nhân Basedow, bướu lan tỏa, mật độ mềm hoặc chắc, di động khi nuốt. Bệnh mắt nội tiết Gặp ở khoảng 40-60% các bệnh nhân Basedow, thương tổn thường xuất hiện ở cả 2 mắt nhưng có 10% trường hợp vẫn chỉ bị 1 bên. Dấu hiệu điển hình ở mắt là mi mắt nhắm không kín, hở khe mi mắt, lồi mắt hoặc nhìn đôi do liệt cơ vận nhãn Bệnh da do Basedow Khá hiếm gặp chỉ ở 2-3% bệnh nhân Basedow, biểu hiện lâm sàng có thể gặp như phù niêm trước xương chày, tổn thương xương, dấu hiệu móng tay ngắn lại, giường móng tay dài ra Vì bệnh Basedow là bệnh nội tiết liên quan đến sự nhạy cảm của tế bào lympho T với các kháng nguyên nằm trong tuyến giáp nên bệnh Basedow không lây. Một số yếu tố được cho là có thể khởi động đáp ứng miễn dịch khiến người mang yếu tố này sẽ là đối tượng nguy cơ của bệnh Basedow như là Mang thai, đặc biệt là giai đoạn sau sinh Ăn quá nhiều iod Điều trị Lithium có thể làm thay đổi đáp ứng miễn dịch Nhiễm khuẩn hoặc virus Ngừng điều trị corticoid Các nguyên nhân gây stress Bệnh Basedow là bệnh lý liên quan trực tiếp tới rối loạn tự miễn chưa rõ nguyên nhân, vì vậy người bệnh đã bị Basedow cần có một số biện pháp để làm giảm nguy cơ tái phát của bệnh Quan trọng nhất vẫn là người bệnh cần nâng cao sức khỏe và thể trạng, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe, sức đề kháng và điều hòa hệ miễn dịch của cơ thể Người bệnh cần giữ tinh thần thoải mái và suy nghĩ tích cực, tránh căng thẳng mệt mỏi Không hút thuốc lá, tránh hít phải khói thuốc lá Đeo kính bảo vệ mắt khỏi bụi, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý hàng ngày Không sờ nắn nhiều lên vùng cổ, hạn chế ăn thực phẩm chứa nhiều iod Điều trị bệnh dứt điểm trước khi mang thai vì thai sản là yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng thêm uân thủ điều trị và tái khám thường xuyên theo lịch hẹn Để chẩn đoán xác định bệnh Basedow cần phải dựa vào cả lâm sàng và xét nghiệm cần thiết Về lâm sàng Bệnh nhân có hội chứng nhiễm độc giáp kèm ít nhất 1 trong 3 triệu chứng bướu mạch, lồ mắt và phù niêm trước xương chày Xét nghiệm cần thiết FT4 tăng và TSH giảm, một số bệnh nhân ở giai đoạn sớm chỉ có FT3 tăng Nồng độ kháng thể TSH-RAb tăng Xạ hình tuyến giáp cho hình ảnh tuyến giáp tăng bắt giữ Iod phóng xạ hoặc Technitium Bên cạnh đó để việc chẩn đoán chính xác và hiệu quả thì xạ hình tuyến giáp đang dần trở thành một phương pháp quan trọng. Hiện Vinmec đang sử dụng hệ thống SPECT/CT Discovery NM/CT 670 Pro với CT 16 dãy hiện đại của hãng thiết bị y tế hàng đầu thế giới GE Healthcare Mỹ thì chất lượng của xạ hình tuyến giáp sẽ cho ra hình ảnh chất lượng cao giúp chẩn đoán sớm bệnh lý cần khảo sát, trong đó có basedow, bướu cổ. Trên thế giới hiện nay, bệnh Basedow điều trị chủ yếu bằng 3 phương pháp chính nội khoa, xạ trị và phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp. Đối với điều trị nội khoa Đây là biện pháp được ưu tiên hàng đầu, được chỉ định khi bệnh mới phát hiện, tuyến giáp to vừa, không có nhân Basedow, chưa có biến chứng và bệnh nhân có điều kiện để điều trị lâu dài theo dõi bệnh Có 3 loại thuốc kháng giáp được sử dụng chủ yếu đó là Methimazole, carbimazole và PTU. Trong đó PTU được khuyến cáo không sử dụng trong điều trị ban đầu cho bệnh nhân Basedow Tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn với phương pháp này là 60-70% sau 12-18 tháng điều trị Đối với điều trị bằng xạ trị Phương pháp được lựa chọn là phóng xạ trị Iod 131 với mục đích làm cho bướu tuyến giáp nhỏ lại và đưa chức năng tuyến giáp từ cường năng về bình thường Phương pháp này chống chỉ định với trẻ em và phụ nữ có thai hoặc cho con bú vì gây suy giáp ở trẻ sơ sinh, bệnh nhân có tình trạng nhiễm độc nặng hoặc bướu quá lớn chèn ép gây nuốt nghẹn hay sặc, khó thở thì ưu tiên phương pháp phẫu thuật hơn Đối với điều trị ngoại khoa Phẫu thuật chỉ được chỉ định khi bệnh đã được điều trị bằng thuốc ít nhất 4-6 tháng mà không duy trì được bình giáp khi ngưng thuốc, bướu giáp to gây mất thẩm mỹ hoặc có biến chứng khó thở Nguyên tắc là cắt bỏ gần toàn bộ tuyến giáp chỉ để lại một phần nhỏ 3-6 gram để duy trì chức năng tạo hormon bình thường Biến chứng có thể gặp sau phẫu thuật khàn tiếng, hạ calci máu, nhiễm trùng vết mổ… Tuy nhiên với sự tiến bộ của nền y học hiện nay thì tỷ lệ biến chứng chỉ rơi vào khoảng 1%. Xem thêm Bệnh bướu cổ, basedow có nguy hiểm không? Xạ hình tuyến giáp đánh giá bướu cổ, phát hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm Bệnh cường giáp có nguy hiểm không? Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai người đàn ông hay phụ nữ, Graves, basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Định nghĩa Graves - Basedow là hình thức phổ biến nhất của cường giáp, xảy ra khi hệ miễn dịch tấn công nhầm tuyến giáp làm cho nó sản xuất thừa hormone thyroxine. Thyroxine ở cấp độ cao hơn rất nhiều có thể tăng tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể, có thể ảnh hưởng đến từ tâm trạng để ngoại hình. Graves - Basedow hiếm khi đe dọa tính mạng. Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai nam hay nữ, Graves - Basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Không có cách nào để ngăn chặn hệ miễn dịch tấn công tuyến giáp, nhưng phương pháp điều trị bệnh Graves - Basedow có thể dễ dàng giảm triệu chứng và giảm việc sản xuất thyroxine. Các triệu chứng Triệu chứng bệnh Graves - Basedow có thể bao gồm Lo lắng. Khó chịu. Khó ngủ. Mệt mỏi. Nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Run tay hoặc ngón tay. Gia tăng mồ hôi. Nhạy cảm với nhiệt. Giảm trọng lượng, mặc dù lượng thức ăn bình thường. Tóc giòn. Tuyến giáp phì đại bướu cổ. Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt. Bệnh mắt Graves - Basedow Dấu hiệu mắt cũng khá phổ biến và được gọi là bệnh mắt Graves - Basedow. Trong bệnh mắt Graves - Basedow, nhãn cầu phình ra quá quỹ đạo bảo vệ lồi mắt. Điều này xảy ra khi các mô và cơ đằng sau mắt sưng lên và làm cho nhãn cầu di chuyển về phía trước. Bởi vì mắt có thể bị đẩy về phía trước, mặt trước mắt có thể trở nên khô. Nếu hút thuốc lá khi bệnh Graves - Basedow nguy cơ phát triển Graves - Basedow lớn hơn năm lầni người không hút thuốc. Điều này có thể vì hút thuốc ức chế sự hấp thu của thuốc kháng giáp trạng được sử dụng để điều trị bệnh Graves - Basedow. Bệnh mắt Graves - Basedow có thể gây ra những dấu hiệu và triệu chứng nhẹ Cảm giác rách và cảm giác sạn hay cát trong một hoặc cả hai mắt. Đỏ hoặc viêm mắt. Mở rộng không gian giữa mi mắt. Sưng phù mi mắt và các mô xung quanh mắt. Nhạy cảm ánh sáng. Ít thường xuyên hơn, bệnh mắt Graves - Basedow có thể tạo ra những dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng Loét giác mạc. Hạn chế cử động mắt. Mờ, giảm thị lực. Bệnh da Graves - Basedow Một dấu hiệu bất thường của Graves - Basedow là đỏ và sưng da, thường ở mào chày cẳng chân và trên mu bàn chân, gọi là bệnh da Graves – Basedow. Gặp bác sĩ nếu có dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh Graves - Basedow, đặc biệt là Tuyến giáp phì đại. Lồi mắt. Lo lắng. Không dung nạp với nhiệt. Rung tay. Giảm trọng lượng. Tìm kiếm sự chăm sóc khẩn cấp nếu đang trải qua những dấu hiệu liên quan đến tim và các triệu chứng, như nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Nguyên nhân Các bác sĩ không biết những gì gây ra bệnh Graves - Basedow. Thông thường, hệ thống miễn dịch sử dụng các protein tự nhiên kháng thể và các tế bào máu trắng bạch cầu để giúp loại bỏ virus, vi khuẩn và các chất lạ kháng nguyên xâm nhập cơ thể. Trong bệnh Graves - Basedow, hệ thống miễn dịch nhầm lẫn tấn công tuyến giáp, nhưng thay vì phá hủy các tuyến, kháng thể gọi là thyrotropin thụ kháng thể TRAb kích thích tuyến giáp làm cho quá nhiều hormone tuyến giáp. Tuyến giáp là một phần của hệ thống nội tiết, bao gồm các tuyến và các mô sản xuất kích thích tố. Các chất phối hợp nhiều hoạt động của cơ thể, từ tiêu hóa để trao đổi chất đến sinh sản. Thyroxine, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể và có liên quan đến việc kiểm soát tốc độ trao đổi chất. Yếu tố nguy cơ Mặc dù nguyên nhân của Graves - Basedow chưa được biết, các nhà nghiên cứu tin rằng sự kết hợp các yếu tố có thể xác định khả năng phát triển Graves - Basedow, chẳng hạn như Lịch sử gia đình của bệnh. Phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh lớn hơn nam giới bảy lần. Graves - Basedow thường phát triển sau tuổi 20. Stress. Mang thai. Hút thuốc. Các biến chứng Bất cứ lúc nào cơ thể sản xuất quá nhiều hormone tuyến giáp, vì bệnh Graves - Basedow hoặc nguyên nhân khác, nó có thể dẫn đến một số biến chứng Vấn đề về tim. Một số trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của cường giáp liên quan đến tim. Chúng bao gồm nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim được gọi là rung nhĩ và suy tim sung huyết, một tình trạng mà tim không thể lưu thông máu đủ để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Các biến chứng này thường giảm với điều trị thích hợp. Giòn xương. Nếu không điều trị cường giáp cũng có thể dẫn đến xương yếu, xương dễ gãy loãng xương. Sức mạnh của xương phụ thuộc một phần vào số lượng canxi và các khoáng chất khác. Quá nhiều hormon tuyến giáp cản trở khả năng của cơ thể để kết hợp canxi vào xương. Cơn cường giáp. Cường giáp cũng có những cơn cường giáp, sự tăng cường đột ngột các dấu hiệu và triệu chứng, dẫn đến một cơn sốt, nhịp tim nhanh và thậm chí mê sảng. Biến chứng này hiếm gặp, nhưng nếu nó xảy ra, ngay lập tức tìm kiếm sự chăm sóc y tế. Kiểm tra và chẩn đoán Để chẩn đoán bệnh Graves - Basedow, bác sĩ thường sử dụng các thủ tục này Khám lâm sàng. Bác sĩ kiểm tra mắt để xem có bị kích thích hoặc nhô ra và sẽ tìm hiểu xem tuyến giáp có phì đại. Vì Graves - Basedow tăng sự trao đổi chất, bác sĩ sẽ kiểm tra mạch và huyết áp và tìm những dấu hiệu bất thường. Bác sĩ cũng sẽ hỏi về các triệu chứng và lịch sử y tế cá nhân và gia đình. Xét nghiệm máu. Bác sĩ có khả năng xét nghiệm máu để xác định mức độ của tuyến giáp, hormone kích thích TSH và thyroxine. TSH được sản xuất bởi tuyến yên, là hormone kích thích tuyến giáp. Trong bệnh Graves - Basedow, một kháng thể bất thường được gọi là TRAb bắt chước TSH, gây thyroxine cao ngay cả trong khi mức TSH vẫn còn thấp. Nếu mức TSH rất thấp và mức thyroxine cao, bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh Graves - Basedow. Hấp thu I - ốt phóng xạ. Cơ thể cần iodine để làm thyroxine. Bằng cách cho một lượng nhỏ iốt phóng xạ và sau đó đo số lượng nó trong tuyến giáp, bác sĩ có thể xác định tốc độ mà tuyến giáp có iốt. Sự hấp thu iốt phóng xạ cao cho thấy tuyến giáp sản xuất quá nhiều thyroxine, như trường hợp bệnh Graves - Basedow. Hấp thụ thấp xảy ra ở một số nguyên nhân khác của cường giáp. Phương pháp điều trị và thuốc Không có điều trị đặc hiệu để ngăn chặn hệ thống miễn dịch sản xuất các kháng thể gây ra bệnh Graves - Basedow. Phương pháp điều trị để kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Graves - Basedow được thiết kế để giảm việc sản xuất thyroxine hoặc để ngăn chặn tác dụng của thyroxine. Điều trị bệnh Graves - Basedow bao gồm Beta blockers. Những loại thuốc này, trong đó bao gồm propranolol Inderal, atenolol TERNOMIN, metoprolol Lopressor và nadolol Corgard, thường làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng cường giáp, chẳng hạn như là tim nhanh. Những loại thuốc này không phải là chữa bệnh Graves - Basedow vì cơ thể vẫn sản xuất quá nhiều thyroxine, nhưng chẹn beta chặn một số tác dụng của các hormone tuyến giáp. Beta blockers thường được sử dụng kết hợp với các hình thức điều trị. Thuốc kháng giáp. Các thuốc theo toa, bao gồm propylthiouracil và methimazole Tapazole, ngăn chặn tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone. Thông thường, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tiếp tục ít nhất một năm. Đối với một số người bị bệnh Graves - Basedow, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng 1 - 2 năm nhằm thuyên giảm bệnh lâu dài. Tuy nhiên, tái phát là khá phổ biến. Các thuốc này thường được sử dụng cùng với điều trị iốt phóng xạ hoặc phẫu thuật để giúp kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng. Cả hai loại thuốc có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng, đôi khi dẫn đến tử vong. Nhưng propylthiouracil đã gây ra trường hợp nhiều hơn, do đó, nó thường chỉ nên được sử dụng khi không thể chịu đựng được methimazole. Điều trị I - ốt phóng xạ. Để tạo ra nội tiết tố tuyến giáp, cơ thể cần I - ốt và sử dụng bất cứ hình thức nào của I - ốt có sẵn trong máu. Khi có iốt phóng xạ, iốt thu thập trong tuyến giáp và qua thời gian, phóng xạ phá hủy các tế bào tuyến giáp hoạt động quá mức. Điều này làm cho tuyến giáp thu nhỏ, và các vấn đề giảm dần, thường là trong vài tuần đến vài tháng. Bởi vì điều trị này có thể là nguyên nhân gây suy giảm hoạt động tuyến giáp, có thể sau này cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng kích thích tố tuyến giáp bình thường. Điều trị không yêu cầu ở lại bệnh viện. Điều trị I - ốt phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ các triệu chứng mới hoặc bệnh mắt Graves - Basedow trở lên tồi tệ hơn. Tác dụng phụ này thường nhẹ và tạm thời, nhưng điều trị iốt phóng xạ có thể không được khuyến khích nếu đã có vấn đề về mắt trung bình đến trầm trọng. Sau khi điều trị iốt phóng xạ, iốt không được lên tuyến giáp được bài tiết trong nước tiểu và nước bọt . Phẫu thuật. Nếu không thể chịu đựng được loại thuốc kháng giáp trạng và không muốn dùng iốt phóng xạ trị liệu, phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp là một lựa chọn. Sau khi phẫu thuật, sẽ có thể cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng bình thường của kích thích tố tuyến giáp. Rủi ro của phẫu thuật này bao gồm thiệt hại tiềm năng dây thanh và tuyến cận giáp, các tuyến nhỏ nằm cạnh tuyến giáp. Tuyến cận giáp tạo ra hormone kiểm soát mức canxi trong máu. Các biến chứng rất hiếm dưới sự chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong phẫu thuật tuyến giáp. Điều trị bệnh mắt Graves - Basedow Nếu Graves - Basedow ảnh hưởng đến mắt, có thể quản lý các triệu chứng nhẹ bằng cách sử dụng nước mắt nhân tạo trong ngày và bôi gel vào ban đêm. Nếu các triệu chứng nặng hơn, bác sĩ có thể khuyên nên Thuốc. Điều trị bằng thuốc corticosteroid, chẳng hạn như prednisone, có thể làm giảm sưng phía sau nhãn cầu. Phẫu thuật giải nén hốc mắt. Trong phẫu thuật này, bác sĩ loại bỏ các xương giữa hốc mắt và các xoang. Điều này cho mắt thoải mái trở lại vị trí ban đầu. Biến chứng có thể bao gồm nhìn đôi và tê môi. Phẫu thuật cơ mắt. Viêm nhiễm gây ra bởi bệnh Graves - Basedow có thể ảnh hưởng đến các cơ mắt, làm cho quá ngắn để cho phép mắt phù hợp. Trong phẫu thuật cơ mắt, bác sĩ cắt giảm các cơ gắn vào nhãn cầu và sau đó tái vị trí nó xa trở lại. Đôi khi, nhiều hơn một hoạt động là cần thiết. Lăng kính. Có thể nhìn đôi hoặc do bệnh hoặc tác dụng phụ của phẫu thuật cho bệnh Graves - Basedow. Mặc dù không hiệu quả cho tất cả mọi người, lăng kính trong mắt kính có thể chính xác khi nhìn đôi. Xạ trị hốc mắt Orbital. xạ trị đã từng là điều trị phổ biến cho bệnh mắt Graves - Basedow. Xạ trị sử dụng nhắm mục tiêu trong suốt nhiều ngày để tiêu diệt một số các mô đằng sau mắt. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy điều trị này không cung cấp lợi ích cho những người có bệnh mắt Graves - Basedow từ nhẹ đến nặng vừa phải. Bác sĩ có thể khuyên nên xạ trị nếu vấn đề mắt đang xấu đi và corticosteroid một mình là không hiệu quả hoặc không dung nạp tốt. Phong cách sống và biện pháp khắc phục Đối với bệnh mắt Graves - Basedow Các bước này có thể làm cho mắt cảm thấy tốt hơn nếu có bệnh mắt Graves - Basedow Áp mát nén mắt. Độ ẩm có thể làm dịu đôi mắt. Đeo kính râm. Khi mắt nhô ra, dễ bị tia cực tím và nhạy cảm với ánh sáng. Đeo kính mát bọc quanh hai bên đầu sẽ giảm gió kích thích mắt. Sử dụng thuốc nhỏ mắt bôi trơn. Thuốc nhỏ mắt có thể làm giảm cảm giác, khô hỗn tạp trên bề mặt của mắt. Vào ban đêm, một gel dựa trên dầu như Lacri có thể được áp dụng. Nâng cao đầu giường. Giữ đầu cao hơn so với phần còn lại của cơ thể làm giảm sự tích tụ dịch trong đầu và có thể làm giảm áp lực trên mắt. Đối với bệnh da Graves - Basedow Nếu bệnh ảnh hưởng đến da, các loại kem sử dụng toa hoặc thuốc mỡ chứa hydrocortisone để làm giảm sưng và đỏ. Ngoài ra, sử dụng nén trên đôi chân có thể giúp đỡ. Đối phó và hỗ trợ Nếu bị bệnh Graves - Basedow, làm cho thể chất và tinh thần tốt là một ưu tiên. Ăn uống tốt và tập thể dục có thể nâng cao sự cải thiện trong một số triệu chứng trong khi được điều trị và giúp cảm thấy tốt hơn nói chung. Ví dụ, bởi vì tuyến giáp điều khiển sự trao đổi chất, có thể có xu hướng tăng cân khi cường giáp. Dễ gãy xương cũng có thể xảy ra với bệnh Graves - Basedow và bài tập chịu trọng lượng có thể giúp duy trì mật độ xương. Hãy thử giảm bớt căng thẳng nhiều như có thể, căng thẳng có thể góp phần vào sự phát triển bệnh Graves - Basedow. Nghe nhạc, tắm nước ấm hoặc đi bộ có thể giúp thư giãn. Đối tác với bác sĩ để xây dựng một kế hoạch kết hợp dinh dưỡng tốt, tập thể dục và thư giãn vào thói quen hàng ngày. Một trong các cách điều trị bệnh basedow là phẫu thuật tuyến giáp. Vì đây là phương pháp xâm lấn, có thể tiềm ẩn các nguy cơ nhất định, việc cân nhắc điều trị bệnh basedow khi nào cần phẫu thuật đúng chỉ định là một điều quan trọng. Bác sĩ có thể đề nghị tư vấn phẫu thuật tuyến giáp cho bệnh nhân basedow trong các trường hợp sauHiện đang mang thai hoặc cho con bú hoặc nuôi con nhỏ trong nhàBiến chứng mắt nghiêm trọng do bệnh basedowCó sự hiện diện đồng thời của ung thư tuyến giáp hoặc nốt sần nghi ngờ ác tínhBị tác dụng phụ của thuốc kháng giápKích thước tuyến giáp quá to gây ra khó khăn khi nuốt, hít thở hoặc biến dạng cổKhó kiểm soát cường giápMong muốn kiểm soát nhanh chóng và giải quyết khỏi bệnh cường giáp Bệnh basedow xuất hiện cùng lúc với ung thư tuyến giáp cần được phẫu thuật 2. Những lợi ích khi phẫu thuật tuyến giáp là gì? Phẫu thuật tuyến giáp sẽ đem đến cho những người mắc bệnh basedow một cách chữa trị nhanh chóng và hiệu dù bệnh nhân có thể sẽ cần chuyển từ việc uống thuốc chống tuyến giáp sang bổ sung hormone tuyến giáp nếu phẫu thuật cắt trọn tuyến giáp, các triệu chứng khó chịu nhìn chung không còn nữa. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tiếp tục dùng tất cả các loại thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta cho đến tận ngày phẫu thuật. Thậm chí, thuốc chẹn beta có thể được tiếp tục trong một vài ngày sau phẫu thuật và sau đó có thể giảm dần hoặc dừng lại. Việc bổ sung hormone tuyến giáp thường được bắt đầu vào ngày hôm sau, hoặc một vài ngày sau đó ở những bệnh nhân kiểm soát hormone kém trong giai đoạn trước phẫu mổ cường giáp sẽ cắt bỏ tuyến giáp tất cả hoặc gần như tất cả các mô tuyến giáp khỏi cổ, điều này sẽ dẫn đến việc giảm sản xuất kháng thể nhanh hơn theo thời gian, có lợi cho những người mắc biến chứng về mắt. Đồng thời, mổ basedow cũng tránh được sự tăng đột biến đáng kể trong sản xuất kháng thể được quan sát thấy khi điều trị với iốt phóng xạ, có thể làm trầm trọng thêm tổn thương mắt, đặc biệt là ở người hút với những bệnh nhân có các triệu chứng chèn ép đáng kể do tuyến giáp quá to, gây khó nuốt, cảm giác nghẹt thở, khó thở hoặc có áp lực cổ, nặng cổ, mổ cường giáp sẽ loại bỏ bớt nhu mô tuyến giáp và sẽ giải quyết các triệu chứng với những bệnh nhân muốn tránh tiếp xúc với bức xạ, phẫu thuật tuyến giáp là một biện pháp thay thế không có phóng xạ để kiểm soát dứt điểm căn bệnh này. 3. Những nguy cơ có thể gặp phải khi mổ basedow là gì? Chấn thương thoáng qua ở dây thần kinh thanh quản tái phát hoặc nhánh ngoài của dây thần kinh thanh quản trên dẫn đến khàn giọng, mất giọng nói. Nguy cơ chấn thương vĩnh viễn là rất canxi máu thoáng qua Tại thời điểm phẫu thuật, tuyến cận giáp thường nằm ở phần sau của tuyến giáp phải được bảo quản cẩn thận nhưng vẫn có thể sang chấn và cần một thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Trong thời gian này, tuyến cận giáp không thể đảm bảo chức năng duy trì mức canxi trong máu. Lúc này, chủ động điều trị trước bằng canxi và bổ sung vitamin D có thể giảm thiểu những rủi ro này. Nguy cơ hạ canxi máu vĩnh viễn do tổn thương không hồi phục đối với tuyến cận giáp là cực kỳ thấp ở các bác sĩ phẫu thuật tuyến giáp có kinh máu, nhiễm trùng Các nguy cơ này xảy ra trong giai đoạn hậu phẫu tại vị trí phẫu thuật tuyến giáp là rất bão giáp Trong quá trình phẫu thuật tuyến giáp, việc xử lý tuyến giáp có thể gây ra sự giải phóng ồ ạt các hormone tuyến giáp vào máu. Nếu người bệnh đã được kiểm soát tốt tiền thuật trước đó, cơ thể đã được bảo vệ khỏi tác động của hormone này. Ngược lại, cơn bão giáp nghiêm trọng có thể gây tổn thương cấp tính các cơ quan và đôi khi còn nguy kịch đến tính mạng ngay trên bàn mổ nếu không được kiểm soát tức thời. Người bệnh có thể mất giọng sau khi mổ basedow 4. Làm thế nào để chuẩn bị phẫu thuật tuyến giáp? Đảm bảo người bệnh đang được chỉ định dùng thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta để kiểm soát tối ưu nồng độ hormone tuyến giáp trước khi phẫu sĩ phẫu thuật nên bắt đầu bổ sung canxi từ trước mổ basedow và bổ sung vitamin D nếu người bệnh bị bệnh có thể được kê toa thuốc giảm iốt trong 10 ngày trước phẫu thuật. Những giọt iốt này không chứa bất kỳ bức xạ nào mà có thể giúp giảm lưu lượng máu đến tuyến giáp trước khi mổ cường giáp. 5. Cách tiến hành phẫu thuật tuyến giáp Việc phẫu thuật tuyến giáp sẽ được thực hiện dưới gây mê toàn vết mổ được thực hiện ở ngay phía trước cổ của người bệnh để bác sĩ có thể tiếp cận đến tuyến giáp. Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải kiểm soát cẩn thận các mạch máu đến tuyến giáp, loại bỏ tuyến giáp trong khi bảo vệ dây thần kinh kiểm soát dây thanh âm và tuyến cận giáp. Nếu tuyến cận giáp bị tổn thương, chúng có thể được đặt lại vào trong các cơ vùng cổ để có thể tự phục tuyến giáp đã được cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật sẽ đóng tất cả các lớp và có thể để lại một ống dẫn nhỏ để tiếp tục dẫn lưu, loại bỏ bất kỳ chất lỏng nào có thể tích tụ trong không gian nơi tuyến giáp tồn tại trước bệnh sẽ được theo dõi trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật để đảm bảo các chức năng đang hồi phục tốt. Đối với một số bệnh nhân gặp phải tình trạng hạ canxi sau phẫu thuật, thời gian nằm viện có thể dài hơn cho đến khi mức canxi được điều chỉnh trở về ổn định. Gây mê toàn thân được chỉ định trong phẫu thuật 6. Cách chăm sóc sau phẫu thuật tuyến giáp như thế nào? Cách thức phẫu thuật và thời gian phục hồi có thể khác nhau ở mỗi cá chung, sau mổ basedow, hầu hết các người bệnh là không tránh khỏi bị đau họng trong vài ngày. Chính vì vậy, họ cần được được chăm sóc bằng một chế độ ăn uống mềm hơn, dễ nuốt hơn trong giai đoạn tuần đầu tiên sau mổ cường giáp, mức năng lượng dung nạp được của bệnh nhân sẽ thấp hơn bình thường vì cơ thể đang sử dụng năng lượng của mình để chữa lành. Tuy vậy, khi vết thương cải thiện hơn, người bệnh có thể ăn uống tăng dần. Sau phẫu thuật, người bệnh cần ăn các loại thức ăn mềm 7. Có cần phải uống thuốc tiếp tục sau phẫu thuật tuyến giáp hay không? Bác sĩ phẫu thuật sẽ bắt đầu liệu pháp thay thế hormone tuyến giáp sau phẫu thuật tuyến hầu hết các trường hợp, người bệnh sẽ có chỉ định bắt đầu vào buổi sáng sau mổ basedow. Nếu nồng độ hormone tuyến giáp chưa được kiểm soát tốt trước khi phẫu thuật hoặc người bệnh đã trải qua một sự giải phóng hormone ồ ạt trong quá trình phẫu thuật có thể nhận thấy nhịp tim nhanh, huyết áp cao, bốc hỏa nặng hoặc run rẩy tay chân ngay sau phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật có thể trì hoãn thuốc sau vài cạnh đó, dựa trên mức độ canxi và lượng hormone tuyến cận giáp trong máu, người bệnh có thể cần phải bổ sung canxi và/hoặc vitamin D trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật tuyến nhiên, bệnh nhân sẽ có thể ngừng thuốc kháng giáp ngay lập tức sau mổ basedow. Nếu đang dùng thuốc chẹn beta nhằm kiểm soát nhịp tim, bác sĩ có thể ngừng, giảm liều hoặc giữ liều tương tự với kế hoạch cai thuốc trong vài tuần và vài tháng sau phẫu lại, phẫu thuật tuyến giáp là cách thức điều trị bệnh basedow đem lại hiệu quả nhanh, kiểm soát tốt triệu chứng và không có nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ. Tuy nhiên, để cuộc mổ cường giáp đem lại lợi ích tối đa, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hạn chế các rủi ro không mong được tư vấn chi tiết, quý khách vui lòng đến trực tiếp hệ thống y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Chỉ số FT4= 13,2, TSH = 0,04 sau điều trị bệnh Basedow 3 tháng có ổn không? Mối liên hệ giữa tuyến giáp và rụng tóc Tiết dịch vàng ở vú trong thời kỳ mang thai có sao không?

giải phẫu bệnh basedow